Cách chữa trị u nang buồng trứng phải Tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe người bệnh, tính chất, kích thước khối u và nguyện vọng sinh đẻ của chị em phụ nữ mà các bác sĩ sẽ đưa ra các phương pháp điều trị hợp lý nhất. Những trường phát hiện có tế bào ung thư thì cần tiến hành phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ khối u và buồng trứng. Nếu khối u lành tính thì chỉ cần bóc tách để lại phần buồng trứng lành, tuy nhiên việc bóc tách có thể gây tái phát bệnh. Nếu phái nữ đã sinh đủ con thì nên cắt toàn bộ buồng trứng tránh nguy cơ tái phát và có các hậu quả nguy hiểm khác. Hiện tượng u nang buồng trứng thường gặp ở giới nữ thai phụ benh nang buong trung phai Dấu hiệu u buồng trứng ở phụ nữ có thai cũng giống như người bình thường không có thai là thường không rõ dấu hiệu ở thời kỳ đầu. bệnh nhân có thể chỉ có những hiện tượng mơ hồ như: Đau lưng, hơi căng bụng, trằn bụng, thấy bụng to hơn (dấu hiệu này ở phụ nữ mang thai thường khó phát hiện hơn)… Khi có dấu hiệu gầy ốm, sụt cân, đau bụng liên tục, khó thở, bụng báng,…thì đó là biểu hiện của biến chứng chèn ép hoặc u buồng trứng bị xoắn, bị vỡ hoặc thoái hóa thành ung thư buồng trứng. Ảnh hưởng của nang buồng trứng tới thai kỳ Ở độ tuổi sinh đẻ, bình thường mỗi chu kỳ kinh nguyệt sẽ có một nang trứng chín (đường kính khoảng 20mm) nó tự vỡ để giải phóng noãn bào (được gọi là phóng noãn hay là rụng trứng). Noãn bào được hút vào vòi tử cung (còn gọi là vòi trứng), nếu gặp tinh trùng sẽ kết hợp với nhau (gọi là thụ tinh) rồi phát triển thành em bé. Phần còn lại của nang trứng sẽ nhỏ lại, gọi là hoàng thể. Hoàng thể tiết ra progesteron giúp phôi thai phát triển trong ba tháng đầu. Việc buồng trứng bị thay đổi về cấu trúc mô học sẽ ảnh hưởng đến chức năng sinh sản cũng như sinh lý bình thường của người phái yếu. Nếu một bên buồng trứng bị bệnh thì bên lành có thể thay thế hoàn toàn cho nó. Ngay cả khi một buồng trứng bị bệnh, nếu như tổ chức của nó chưa bị phá hủy lành hẳn thì ở những phần còn lành, các nang noãn vẫn có thể phát triển nên bệnh nhân vẫn có kinh nguyệt và mang thai. U thường không gây dấu hiệu gì đặc biệt nếu không có sự thay đổi. tuy nhiên, ở phụ nữ có thai, u nang buồng trứng lại là vấn đề đáng được quan tâm. U nang buồng trứng gây vô sinh khi tổ chức buồng trứng bị hủy hoại hoàn toàn, không còn tế bào lành để phát triển thành nang trội. có nguy cơ còn một số nang noãn nhưng phát triển không đầy đủ nên không phóng noãn được. Nếu buồng trứng vẫn còn một phần tổ chức lành thì vẫn có thể phóng noãn, nhưng u nang quá to sẽ chèn ép vòi tử cung, ngăn noãn bào và tinh trùng gặp nhau, gây vô sinh. Một số trường hợp bệnh nhân vẫn có thai, nhưng do buồng trứng bị bệnh nên hoàng thể phát triển không nhỏ, gây sẩy thai. Nếu u to sẽ chèn ép vào tử cung, sẽ kích thích tử cung co bóp và cũng gây sẩy. Ở nhiều trường hợp, u nang tuy lớn nhưng thai vẫn phát triển bình thường ở hai quý đầu; nhưng sang quý 3, thai đã lớn tạo ra tử cung to ra nên khối u gây chèn ép, kích thích tử cung co bóp nhiều, khiến thai bị tống ra ngoài sớm. U nang buồng trứng còn ngăn cản thai nhi bình chỉnh trong tử cung. Thông thường đến tháng thứ 7 hay thứ 8, đầu thai nhi phải quay xuống dưới để dễ ra ngoài khi sinh. Nếu u lớn, nó có khi chèn vào tử cung, ép tử cung vào thành bụng khiến thai nhi không thể quay đầu được, gây đẻ khó. Trong khi chuyển dạ, nếu khối u có đường kính khoảng 10cm và nằm trong tiểu khung, nó sẽ không cho thai tiến vào lòng tiểu khung để ra ngoài, phải mổ lấy thai. Tình trạng thai nghén cũng sự khác thường không nhỏ đến u nang buồng trứng. Khi không có thai, khối u thường nằm trong lòng tiểu khung; nhưng khi có thai, tử cung lớn dần đã đẩy khối u vào trong ổ bụng. Ruột di động tạo ra khối u bị xoắn, gây nên bệnh cảnh cấp cứu ngoại khoa, cần mổ gấp. Khi có thai, biểu hiện u nang buồng trứng xoắn khó chẩn đoán hơn. Khi mổ cấp, tử cung bị kích thích dễ gây sẩy thai hoặc đẻ non. Sau khi sinh, tử cung thu nhỏ lại, ổ bụng rộng rãi, khối u di động nhiều nên cũng dễ bị xoắn và phải mổ cấp cứu.